|
Có người thắc mắc tại sao cha với con lại không cùng một họ, như cha thì họ Bửu con thì họ Vĩnh; tại sao bây giờ một số đổi thành họ Nguyễn Phước.
Tam cung – Lục viện:
Tất cả các gia đình ở vào khu vực riêng gọi là cung cấm, có thành dày và cao che kín, chung quanh có hồ. Những cơ sở để ở gọi là cung và điện. Dưới triều nhà Nguyễn có Tam cung và Lục viện.
Tam cung:
Cung Diên Thọ: dành cho các bà hoàng thái hậu, thái thái hậu đã thăng bà (chết)
Cung Trường Sanh: gồm nhiều lâu đài cho vợ của vua tại ngôi.
Cung Khôn Thái: gần đến điện Càn Thành nơi vua ở, dành cho bà hoàng quý phi. Có một điện chính là điện Cao minh Trung chánh. Phía đông có nhà hát gọi là Viện Tịnh quan.
Trừ cung Diên Thọ, tất cả các cung và điện đều ở trong Tử cấm thành, dành cho cung phi, mỹ nữ của vua đang tại ngôi, dưới sự săn sóc và kiểm soát của các thái giám.
Có hai dạng thái giám:
Giám sanh (trời sanh).
Giám lặt (tự thiến).
Lục Viện:
Viện Thuận Huy: ở gần điện Càn Thành và Cao minh Trung chánh.
Viện Đan Thuận
Viện Đan Hòa
Viện Đan Huy
Viện Đan Tường
Viện Đoan Trang (cung nữ tân tuyển)
Vợ vua chia làm cửu giai: chín bậc:
- Nhất giai phi (Hoàng quý phi)
- Nhị giai phi
- Tam giai tân
- Ngũ giai tiếp sư
- Thất giai thục nhân quý
- Bát giai thục nhân quý
- Cửu giai tài nhân
Gốc tích thành phố Huế
Từ thượng cổ, Huế là đất của Việt Thường. Đời vua thứ 3 họ Hồng Bàng chia nước làm 15 bộ trong đó có Việt Thường. Quyển Địa dư chí của Nguyễn Trãi: “Thuận Hóa cổ Việt Thường bộ từ huyện Hải Lăng tỉnh Quảng trị đến phủ Điện Bàng tỉnh Quảng Nam”.
Trong thời kỳ đầu Bắc thuộc, đất Huế lần lược thuộc huyện Lâm Ấp, Tượng quận dưới đời Tần rồi thuộc huyện Tượng Lâm, quân Nhật Nam dưới đời Hán, nhưng đất Huế vẫn gọi là đất Lâm Ấp. Cuối đời Hán, một viên chức ở huyện giết huyện lệnh, tự lập làm vua, đặt tên nước là Lâm Ấp, sau gọi là Chiêm Thành. Đến đời Tống, Huế vẫn là đất Chiêm Thành. Thế là dân Huế, suốt đời Tần và một phần đời Hán, chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc và bắt đầu khi hình thành đất Lâm Ấp, chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Sau một thời gian ngắn độc lập, Lâm Ấp lại bị nhà Tùy chiếm năm 605, nhà Đường chiếm năm 628
Năm 1069, vua Lý Thánh Tôn đánh Chiêm Thành, vua Chiêm Thành dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính (Quảng Bình và Quảng Trị). Năm 1075 vua Lý Thánh Tôn đổi Địa Lý thành Lâm Bình và Ma Linh thành Minh Linh. Năm 1103 vua Chiêm là Chế-ma-na lấy lại đất 3 châu. Năm 1104, Lý Thường Kiệt đánh thắng, Chế-ma-na phải trả lại 3 châu ấy. Năm 1306, Vua Trần Anh Tôn gả Huyền Trân công chúa cho Chế Mân. Chế Mân dâng châu Ô và châu Ri. Năm 1307, vua Trần đổi hai châu ấy thành châu Thuận và châu Hóa. Năm 1375, vua Trần Duệ Tôn đổi phủ Lâm Bình thành phủ Tân Bình. Năm 1414, nước ta nội thuộc nhà Minh. Trung quốc đặt thành hai phủ Tân Bình và Thuận Hóa. Đầu đời Lê (14280, phủ Tân Bình đổi thành lộ Tân Bình, Thuận Hóa thuộc đạo Hải Tây. Các vua Lê về sau đổi thành xứ Thuận Hóa rồi trấn Thuận Hóa.
Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng được lệnh vua Lê vào trấn Thuận Hóa mở mang bờ cõi. Năm 1570, đặt kinh đô tại làng Trà Bát (Thuận Châu). Thuận Hóa lúc bấy giờ rộng từ Quảng Bình đến hết phủ Điện Bàng (Quảng Nam). Năm Canh Tý (1600), chúa Nguyễn Hoàng dời đô đến phía Đông đình Ái Tử. Rồi dưới đời các chúa Nguyễn Phúc Nguyện và Nguyễn Phúc Lan lần lượt dời phủ (nơi chúa ở) đến xã Phước Yên, huyện Quảng Điền, rồi đến xã Kim Luông (Kim Long) huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên.
Tháng 7 năm Đinh Mão (1689), chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691), dựng phủ mới ở xã Phú Xuân, huyện Hương Trà, tức là kinh thành Huế bây giờ, lấy núi đàng trước làm án, tức là núi Ngự Bình bây giờ, đắp tường, dựng điện, phía trước đào ao. Tháng 4 năm Giáp Tý (1744), chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) lên ngôi vương ở Phú Xuân. Tháng 11 năm Giáp Ngọ (1774), Trịnh Sâm sai tướng Hoàng Ngũ Phúc chiếm Thuận Hóa. Đến năm 1768, Tây Sơn đuổi Trịnh, chiếm Thuận Hóa.
Tháng 3 năm Tân Dậu (1801), Gia Long lấy lại Phú Xuân là thành phố Huế. Năm 1823, vua Minh Mạng đặt trước kinh thành đề đốc, phủ doãn (tỉnh trưởng), phủ thừa (phố tỉnh trưởng)
Hoàng phái:
Có người thắc mắc tại sao cha với con lại không cùng một họ, như cha thì họ Bửu con thì họ Vĩnh; tại sao bây giờ một số đổi thành họ Nguyễn Phước. Muốn hiểu rõ, hãy đọc bài: “Đế hệ thi” do vua Minh Mạng đặt, gồm 20 chữ không trùng nhau, ghép thành bốn câu thơ. Mỗi đời vua theo thứ tự, lấy một chữ đặt trước tên mình và bắt đầu từ vua Thiệu Trị. Lấy một ví dụ để chứng minh cho rõ: Vua Khải Định tên là Đảo, thuộc vào thế hệ thứ 4 nên lấy chữ Bữu đặt trước, thành ra Bửu Đảo. Con trai của vua Khải Định thì lấy chữ thứ 5 là Vĩnh đặt trước tên Thụy thành ra Vĩnh Thụy, tức là Bảo Đại. Vua Minh Mạng không có tham vọng nhiều, chỉ mong được 20 đời vua thôi. Nhưng chỉ đến vua Bảo Đại (Vĩnh Thụy) là chấm dứt đế nghiệp nhà Nguyễn.
Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quý Định Long Trường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thế Thoại Quốc Gia Xương
Trên đây là đối với nam, còn nữ gọi cách khác
Nam Nữ
Hường (công tử) Công nữ (công chúa)
Ưng (công tôn) Công tôn nữ
Bửu Công tằng tôn nữ
Vĩnh Công huyền tôn nữ
Bảo Lan huyền tôn nữ
Quý Công huyền tôn nữ
Định Nhung huyền tôn nữ
Long Vân huyền tôn nữ
Trường Nhi huyền tôn nữ
Còn những người trước tên có hai chữ Tôn Thất, là con cháu các chúa đời Gia Long. Chú vua Gia Long có 9 con trai chia thành 9 hệ. Các hệ này giữ nguyên hai chữ Tôn Thất đối với nam, nghĩa là cha họ Tôn Thất thì con cháu cũng thế. Nữ thì đổi thành Tôn Nữ. Ví dụ: Tôn Nữ Xuân Lan.
Về dòng Hoàng tử Cảnh thì dùng các chữ sau đây: Tịnh, Hoài, Chiêm, Vĩnh, Ái đặt trước tên. Ví dụ: Ông Viễn Đệ.
Bây giờ không còn chế độ quân chủ nữa, những người thuộc hoàng phái lấy họ Nguyễn Phước tức là trở về gốc, vì các chúa trước vua Gia Long cũng mang họ Nguyễn Phúc hay Nguyễn Phước cũng thế, hai chữ cùng một nghĩa và xuất xứ từ một chữ Hán.
|